Chiến lược liên hoành của Trương Nghi cốt lõi nằm ở việc lợi dụng uy hiếp và dụ dỗ, buộc đối thủ từ bỏ liên minh mà hợp tác đơn phương. Trong kinh doanh hiện đại, điều này tương tự như việc doanh nghiệp thông qua việc phô diễn thực lực và rủi ro tiềm ẩn của mình, phá vỡ quan hệ hợp tác của đối thủ cạnh tranh, từ đó đạt được thỏa thuận độc quyền. Ví dụ, trong ngành công nghiệp chip, một gã khổng lồ thường dùng kỹ thuật phong tỏa hoặc rào cản thị trường làm con bài mặc cả, buộc khách hàng từ bỏ hợp tác với nhà cung cấp mới nổi, qua đó củng cố vị thế của mình. Trương Nghi nhấn mạnh ưu thế tuyệt đối của nước Tần, ví như doanh nghiệp nhấn mạnh thị phần, chuỗi cung ứng hoặc rào cản bằng sáng chế của mình, khiến đối phương cảm thấy nếu không hợp tác sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất thị phần hoặc chi phí tăng cao. Đồng thời, Trương Nghi chỉ ra sự mong manh của liên minh hợp tung, như lợi ích giữa các thành viên không nhất quán, phản ứng chậm trễ, cũng giống như liên minh kinh doanh có thể kém hiệu quả do chi phí điều phối cao. Sở vương cuối cùng chọn thỏa hiệp, phản ánh rằng khi thực lực chênh lệch, doanh nghiệp nhỏ hoặc đối tác có xu hướng liên minh với kẻ mạnh hơn là chống đối. Chiến lược này nhắc nhở doanh nghiệp rằng, trong đàm phán vừa phải phô diễn thực lực cứng, vừa phải đưa ra lợi ích rõ ràng, đồng thời chỉ ra khiếm khuyết chí mạng trong chiến lược hiện tại của đối phương, từ đó dẫn dắt họ đưa ra quyết định có lợi cho mình.