" Cao sơn lưu thủy" điển cố xuất từ " Liệt Tử - Thang Vấn", kể rằng Bá Nha giỏi gảy đàn, Chung Tử Kỳ giỏi nghe đàn. Bá Nha chí tại cao sơn, Tử Kỳ liền nói " nguy nguy hồ nhược Thái Sơn"; chí tại lưu thủy, Tử Kỳ liền nói " thang thang hồ nhược lưu thủy". Sau khi Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn đứt dây, suốt đời không gảy đàn nữa, cho rằng trên đời không còn ai xứng đáng để mình gảy đàn. Bởi vậy, thành ngữ này vừa chỉ nhạc khúc cao diệu, vừa ví von tri âm khó gặp hoặc tri kỷ tương thưởng. Về bối cảnh văn hóa, nó đại biểu cho sự theo đuổi tột bậc về cộng hưởng tinh thần và tâm linh tương hợp của Trung Quốc cổ đại, thường dùng để hình dung sự thấu hiểu và ăn ý sâu đậm giữa bạn bè. Về sắc thái tình cảm, vừa có sự ca ngợi đối với nghệ thuật cao nhã, vừa mang theo cảm khái và nỗi cô đơn vì tri âm khó được. Trường hợp sử dụng phần nhiều là miêu tả thưởng thức nghệ thuật, chiều sâu tình bạn hoặc than thở không ai hiểu mình. Hàm nghĩa sâu xa nằm ở chỗ: tri âm chân chính có thể nghe hiểu ý ngoài lời, vượt qua ngôn ngữ, đi thẳng đến tâm hồn; mà một khi đã mất đi, bèn thành tuyệt hưởng.
📝 Ví dụ
{
"1": "Hai người họ một người đàn một người nghe nhạc, thật là cao sơn lưu thủy, khiến người ta ngưỡng mộ. (Ví với tri âm tri kỷ, thấu hiểu lẫn nhau sâu sắc)",
"2": "Trong thời đại ồn ào này, muốn tìm được tri kỷ như cao sơn lưu thủy không phải dễ. (Ví với tri âm khó tìm, đồng điệu tinh thần khó có được)"
}