Thuế trọng tải tàu (Tonnage Dues) là loại thuế sử dụng mà hải quan thu đối với tàu biển nước ngoài ra vào cảng của nước mình, dựa trên trọng tải tịnh, thuộc một phần chi phí cảng. Đối tượng thu là tàu hàng hải quốc tế, thường do chủ tàu hoặc đại lý tàu biển nộp cho hải quan khi tàu vào cảng, thuế suất khác nhau tùy theo trọng tải tàu và việc có ký hiệp định ưu đãi với nước mình hay không. Thường gặp trong vận tải hàng nhập khẩu bằng đường biển, tàu ghé cảng. Lưu ý: Thuế này khác với thuế quan, thuế GTGT, không đánh trực tiếp vào hàng hóa mà vào bản thân tàu; nếu tàu đã nộp thuế trọng tải thì không phải nộp các phí sử dụng cảng khác (như phí hải đăng), nhưng cần chú ý thời hạn hiệu lực (thường 90 ngày hoặc 1 năm). Khác với 'phí cảng vụ' ở chỗ thuế trọng tải là thuế chính phủ, có tính bắt buộc, còn phí cảng vụ là phí dịch vụ do cơ quan cảng thu. Người làm ngoại thương cần tính đến chi phí này khi báo giá, đặc biệt ảnh hưởng rõ rệt trong vận tải hàng rời số lượng lớn.
📝 Ví dụ
1. Lô quặng sắt này vận chuyển từ Brazil đến Trung Quốc, báo giá của hãng tàu đã bao gồm thuế trọng tải tàu, nhưng khi thông quan vẫn cần cung cấp bản sao giấy chứng nhận thuế trọng tải. (Giải thích: Khi nhập khẩu hàng hóa số lượng lớn, thuế trọng tải do bên tàu chịu và tính vào cước vận chuyển, nhưng phải xuất trình chứng từ cho hải quan.)
2. Do Trung Quốc và Panama có hiệp định ưu đãi, tàu chở hàng mang cờ Panama này khi ghé cảng Thượng Hải lần này được hưởng thuế suất ưu đãi thuế trọng tải tàu, tiết kiệm khoảng 30% chi phí cảng. (Giải thích: Tận dụng hiệp định song phương có thể giảm chi phí thuế trọng tải, là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp ngoại thương cân nhắc khi chọn cờ tàu.)
💡 Mẹo ngoại thương
Thuật ngữ ngoại thương là nền tảng của giao tiếp kinh doanh quốc tế
Thông lệ thương mại có thể khác nhau giữa các quốc gia
Khi sử dụng thuật ngữ trong hợp đồng, hãy ghi rõ phiên bản áp dụng (ví dụ: Incoterms 2020)
Với thuật ngữ chưa quen, hãy dùng trợ lý email đa ngôn ngữ của GlobalSync