Chương 10 bao gồm các mặt hàng ngũ cốc, bao gồm lúa mì, lúa mạch đen, đại mạch, yến mạch, ngô, thóc, gạo, cao lương và các cây lương thực chính khác. Chương này là chương cơ bản về nông sản trong phân loại HS, liên quan đến ngũ cốc chưa qua chế biến hoặc sơ chế dùng cho tiêu dùng của con người và thức ăn chăn nuôi. Phân loại trong chương chủ yếu dựa trên loại ngũ cốc, mức độ chế biến (như bóc vỏ, xay xát) và mục đích sử dụng, phân biệt rõ ràng với Chương 11 (sản phẩm công nghiệp xay xát) và Chương 12 (hạt có dầu). Nhóm 1006 bao gồm riêng thóc, gạo và tấm, bao gồm các sản phẩm gạo đã qua chế biến như bóc vỏ, xay xát, đánh bóng. Trong nhóm này được phân chia theo mức độ chế biến: 1006.10 là thóc (chưa bóc vỏ), 1006.20 là gạo lứt (đã bóc vỏ chưa xay xát), 1006.30 là gạo trắng (đã xay xát hoặc đánh bóng), 1006.40 là tấm. Thóc là dạng nguyên thủy chưa bóc vỏ, là điểm khởi đầu của chuỗi sản xuất gạo, việc phân loại ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn mã số thuế của sản phẩm chế biến sau này. Mã HS 100610 gồm 6 chữ số: 2 chữ số đầu '10' đại diện cho Chương 10 (ngũ cốc), bao gồm tất cả các cây lương thực chính; chữ số thứ 3-4 '06' đại diện cho nhóm 1006 (thóc, gạo và tấm), phân biệt với các loại ngũ cốc khác như lúa mì (1001), ngô (1005); chữ số thứ 5-6 '10' đại diện cho phân nhóm 1006.10 (thóc), chỉ thóc chưa bóc vỏ, trong khi 1006.20 là gạo lứt, 1006.30 là gạo trắng, 1006.40 là tấm. Do đó, 100610 chỉ chính xác thóc chưa qua bóc vỏ, là dạng cơ bản nhất của sản phẩm gạo. Thóc được phân loại vào 100610 vì thuộc loại thóc chưa bóc vỏ, phù hợp với định nghĩa của phân nhóm 1006.10. Nếu đã bóc vỏ nhưng chưa xay xát, phải phân loại vào 1006.20 (gạo lứt); nếu đã xay xát hoặc đánh bóng, phân loại vào 1006.30 (gạo trắng); nếu là hạt gạo bị vỡ, phân loại vào 1006.40. Ngoài ra, thóc có sự khác biệt cơ bản với bột gạo của Chương 11 (1102) hoặc rơm rạ của Chương 12 (1213), vì thóc là ngũ cốc chưa qua chế biến, còn bột gạo là sản phẩm xay xát hoặc phế thải.
Chương
Chương 10 bao gồm các mặt hàng ngũ cốc, bao gồm lúa mì, lúa mạch đen, đại mạch, yến mạch, ngô, thóc, gạo, cao lương và các cây lương thực chính khác. Chương này là chương cơ bản về nông sản trong phân loại HS, liên quan đến ngũ cốc chưa qua chế biến hoặc sơ chế dùng cho tiêu dùng của con người và thức ăn chăn nuôi. Phân loại trong chương chủ yếu dựa trên loại ngũ cốc, mức độ chế biến (như bóc vỏ, xay xát) và mục đích sử dụng, phân biệt rõ ràng với Chương 11 (sản phẩm công nghiệp xay xát) và Chương 12 (hạt có dầu).
Nhóm
Nhóm 1006 bao gồm riêng thóc, gạo và tấm, bao gồm các sản phẩm gạo đã qua chế biến như bóc vỏ, xay xát, đánh bóng. Trong nhóm này được phân chia theo mức độ chế biến: 1006.10 là thóc (chưa bóc vỏ), 1006.20 là gạo lứt (đã bóc vỏ chưa xay xát), 1006.30 là gạo trắng (đã xay xát hoặc đánh bóng), 1006.40 là tấm. Thóc là dạng nguyên thủy chưa bóc vỏ, là điểm khởi đầu của chuỗi sản xuất gạo, việc phân loại ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn mã số thuế của sản phẩm chế biến sau này.
Phân tích từng chữ số
Mã HS 100610 gồm 6 chữ số: 2 chữ số đầu '10' đại diện cho Chương 10 (ngũ cốc), bao gồm tất cả các cây lương thực chính; chữ số thứ 3-4 '06' đại diện cho nhóm 1006 (thóc, gạo và tấm), phân biệt với các loại ngũ cốc khác như lúa mì (1001), ngô (1005); chữ số thứ 5-6 '10' đại diện cho phân nhóm 1006.10 (thóc), chỉ thóc chưa bóc vỏ, trong khi 1006.20 là gạo lứt, 1006.30 là gạo trắng, 1006.40 là tấm. Do đó, 100610 chỉ chính xác thóc chưa qua bóc vỏ, là dạng cơ bản nhất của sản phẩm gạo.
Căn cứ phân loại
Thóc được phân loại vào 100610 vì thuộc loại thóc chưa bóc vỏ, phù hợp với định nghĩa của phân nhóm 1006.10. Nếu đã bóc vỏ nhưng chưa xay xát, phải phân loại vào 1006.20 (gạo lứt); nếu đã xay xát hoặc đánh bóng, phân loại vào 1006.30 (gạo trắng); nếu là hạt gạo bị vỡ, phân loại vào 1006.40. Ngoài ra, thóc có sự khác biệt cơ bản với bột gạo của Chương 11 (1102) hoặc rơm rạ của Chương 12 (1213), vì thóc là ngũ cốc chưa qua chế biến, còn bột gạo là sản phẩm xay xát hoặc phế thải.
📝 Yếu tố khai báo
Tên hàng: Tên cụ thể của hàng hóa khai báo, nên sử dụng tiếng Trung hoặc tiếng Anh chuẩn, như 'thóc' hoặc 'Paddy rice', tránh sử dụng tên thông thường hoặc tên địa phương. Loại: Ghi rõ giống thóc cụ thể, như lúa nước, lúa japonica, lúa nếp, v.v., các giống khác nhau có thể ảnh hưởng đến hạn ngạch thuế quan hoặc yêu cầu kiểm dịch. Đã bóc vỏ chưa: Khai báo rõ ràng liệu đã qua xử lý bóc vỏ chưa, thóc là chưa bóc vỏ, gạo lứt là đã bóc vỏ, đây là điểm then chốt để phân biệt 1006.10 và 1006.20. Mục đích sử dụng: Giải thích mục đích sử dụng của thóc, như để trồng trọt, để ăn, để công nghiệp, v.v., thóc dùng để trồng trọt có thể liên quan đến phê duyệt kiểm dịch. Mức độ chế biến: Mô tả trạng thái chế biến của thóc, như đã qua sấy khô, sàng lọc, hun trùng, v.v., nhưng không được thay đổi đặc điểm cơ bản là chưa bóc vỏ. Quy cách đóng gói: Khai báo phương thức đóng gói và trọng lượng tịnh mỗi bao, như đóng bao, đóng rời, và trọng lượng cụ thể, dùng cho thống kê và kiểm tra. Xuất xứ: Ghi rõ quốc gia hoặc khu vực xuất xứ của thóc, các xuất xứ khác nhau có thể liên quan đến thuế suất khác nhau hoặc hiệp định thương mại. Tên hàng: Thóc; Loại: Lúa japonica; Đã bóc vỏ chưa: Chưa bóc vỏ; Mục đích sử dụng: Để ăn; Mức độ chế biến: Đã sấy khô, sàng lọc, chưa xay xát; Quy cách đóng gói: Đóng rời, mỗi bao 50 kg; Xuất xứ: Tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc. Ghi chú: Không dùng để trồng trọt, không có yêu cầu phê duyệt kiểm dịch. Khai báo sai gạo lứt đã bóc vỏ thành thóc, dẫn đến sai mã số, phải phân loại vào 1006.20. Không phân biệt thóc dùng để trồng trọt và phi trồng trọt, thóc dùng để trồng trọt cần cung cấp phê duyệt kiểm dịch, nếu không có thể bị trả hồ sơ. Bỏ qua mô tả mức độ chế biến, nếu thóc đã qua đánh bóng hoặc xay xát, thực tế đã thành gạo trắng, phải phân loại vào 1006.30.
Tên hàng
Tên cụ thể của hàng hóa khai báo, nên sử dụng tiếng Trung hoặc tiếng Anh chuẩn, như 'thóc' hoặc 'Paddy rice', tránh sử dụng tên thông thường hoặc tên địa phương.
⚠️ Khai báo sai thành 'gạo', 'gạo lứt' hoặc 'ngũ cốc', dẫn đến phân loại sai.
Loại
Ghi rõ giống thóc cụ thể, như lúa nước, lúa japonica, lúa nếp, v.v., các giống khác nhau có thể ảnh hưởng đến hạn ngạch thuế quan hoặc yêu cầu kiểm dịch.
⚠️ Chỉ ghi 'thóc' mà không phân loại giống, có thể ảnh hưởng đến việc xử lý giấy tờ giám sát sau này.
Đã bóc vỏ chưa
Khai báo rõ ràng liệu đã qua xử lý bóc vỏ chưa, thóc là chưa bóc vỏ, gạo lứt là đã bóc vỏ, đây là điểm then chốt để phân biệt 1006.10 và 1006.20.
⚠️ Khai báo sai gạo lứt đã bóc vỏ nhưng chưa xay xát thành thóc, gây phân loại sai.
Mục đích sử dụng
Giải thích mục đích sử dụng của thóc, như để trồng trọt, để ăn, để công nghiệp, v.v., thóc dùng để trồng trọt có thể liên quan đến phê duyệt kiểm dịch.
⚠️ Không phân biệt mục đích trồng trọt và phi trồng trọt, dẫn đến bỏ sót thủ tục phê duyệt kiểm dịch hoặc áp dụng sai thuế suất.
Mức độ chế biến
Mô tả trạng thái chế biến của thóc, như đã qua sấy khô, sàng lọc, hun trùng, v.v., nhưng không được thay đổi đặc điểm cơ bản là chưa bóc vỏ.
⚠️ Khai báo sai thóc đã qua xay xát là chưa qua chế biến, thực tế đã thành gạo trắng.
Quy cách đóng gói
Khai báo phương thức đóng gói và trọng lượng tịnh mỗi bao, như đóng bao, đóng rời, và trọng lượng cụ thể, dùng cho thống kê và kiểm tra.
⚠️ Khai báo quy cách đóng gói không đúng sự thật, như khai báo đóng rời thành đóng bao, ảnh hưởng đến giám sát hải quan.
Xuất xứ
Ghi rõ quốc gia hoặc khu vực xuất xứ của thóc, các xuất xứ khác nhau có thể liên quan đến thuế suất khác nhau hoặc hiệp định thương mại.
⚠️ Khai báo sai xuất xứ, dẫn đến không được hưởng thuế suất ưu đãi hoặc gây ra điều tra chống bán phá giá.
Ví dụ: Tên hàng: Thóc; Loại: Lúa japonica; Đã bóc vỏ chưa: Chưa bóc vỏ; Mục đích sử dụng: Để ăn; Mức độ chế biến: Đã sấy khô, sàng lọc, chưa xay xát; Quy cách đóng gói: Đóng rời, mỗi bao 50 kg; Xuất xứ: Tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc. Ghi chú: Không dùng để trồng trọt, không có yêu cầu phê duyệt kiểm dịch.
Lỗi thường gặp:
Khai báo sai gạo lứt đã bóc vỏ thành thóc, dẫn đến sai mã số, phải phân loại vào 1006.20.
Không phân biệt thóc dùng để trồng trọt và phi trồng trọt, thóc dùng để trồng trọt cần cung cấp phê duyệt kiểm dịch, nếu không có thể bị trả hồ sơ.
Bỏ qua mô tả mức độ chế biến, nếu thóc đã qua đánh bóng hoặc xay xát, thực tế đã thành gạo trắng, phải phân loại vào 1006.30.
🎯 Logic phân loại
Căn cứ phân loại cốt lõi là 'Biểu thuế xuất nhập khẩu' và 'Chú giải HS'. Thóc được phân loại vào 1006.10 vì trạng thái chưa bóc vỏ, tức là thóc vẫn giữ vỏ trấu bao bọc. Nếu đã bóc vỏ, thì dù có xay xát hay không, đều phân loại vào 1006.20 hoặc 1006.30. Ngoài ra, cần lưu ý phân biệt với sản phẩm xay xát của Chương 11 (như bột gạo 1102), là sản phẩm gạo đã xay thành bột. Đồng thời, nếu thóc dùng để gieo trồng, còn cần xem xét yêu cầu kiểm dịch và phê duyệt loài. 100620 Gạo lứt: Gạo lứt là sản phẩm thóc đã bóc vỏ nhưng chưa xay xát, vẫn giữ một phần lớp cám; thóc thì chưa bóc vỏ, vỏ trấu nguyên vẹn. Trạng thái chế biến của hai loại khác nhau, khi phân loại cần xác minh đã bóc vỏ chưa. 100630 Gạo trắng: Gạo trắng là gạo đã qua xay xát hoặc đánh bóng, đã loại bỏ lớp cám và phôi; thóc chưa qua bóc vỏ và xay xát. Nếu thóc đã qua xay xát, thì phân loại vào 1006.30. 100640 Tấm: Tấm là hạt gạo bị vỡ trong quá trình xay xát, chiều dài nhỏ hơn 3/4 hạt gạo nguyên; thóc là hạt nguyên chưa bóc vỏ, hình dạng và mức độ chế biến khác nhau. 110290 Bột mịn của các loại ngũ cốc khác: Bột gạo thuộc sản phẩm công nghiệp xay xát, phân loại vào Chương 11; thóc là ngũ cốc chưa qua chế biến, phân loại vào Chương 10. Nếu thóc được xay thành bột, thì phân loại vào 1102.90. Đã xác nhận hàng hóa chưa bóc vỏ, vỏ trấu nguyên vẹn chưa? Đã phân biệt dùng để trồng trọt và phi trồng trọt, và chuẩn bị phê duyệt kiểm dịch chưa? Đã kiểm tra mức độ chế biến, chưa xay xát, chưa đánh bóng chưa? Đã đối chiếu quy cách đóng gói với khai báo chưa? Đã xác nhận xuất xứ để áp dụng đúng thuế suất chưa?
Căn cứ
Căn cứ phân loại cốt lõi là 'Biểu thuế xuất nhập khẩu' và 'Chú giải HS'. Thóc được phân loại vào 1006.10 vì trạng thái chưa bóc vỏ, tức là thóc vẫn giữ vỏ trấu bao bọc. Nếu đã bóc vỏ, thì dù có xay xát hay không, đều phân loại vào 1006.20 hoặc 1006.30. Ngoài ra, cần lưu ý phân biệt với sản phẩm xay xát của Chương 11 (như bột gạo 1102), là sản phẩm gạo đã xay thành bột. Đồng thời, nếu thóc dùng để gieo trồng, còn cần xem xét yêu cầu kiểm dịch và phê duyệt loài.
Mã dễ nhầm:
100620 - Gạo lứt
Gạo lứt là sản phẩm thóc đã bóc vỏ nhưng chưa xay xát, vẫn giữ một phần lớp cám; thóc thì chưa bóc vỏ, vỏ trấu nguyên vẹn. Trạng thái chế biến của hai loại khác nhau, khi phân loại cần xác minh đã bóc vỏ chưa.
100630 - Gạo trắng
Gạo trắng là gạo đã qua xay xát hoặc đánh bóng, đã loại bỏ lớp cám và phôi; thóc chưa qua bóc vỏ và xay xát. Nếu thóc đã qua xay xát, thì phân loại vào 1006.30.
100640 - Tấm
Tấm là hạt gạo bị vỡ trong quá trình xay xát, chiều dài nhỏ hơn 3/4 hạt gạo nguyên; thóc là hạt nguyên chưa bóc vỏ, hình dạng và mức độ chế biến khác nhau.
110290 - Bột mịn của các loại ngũ cốc khác
Bột gạo thuộc sản phẩm công nghiệp xay xát, phân loại vào Chương 11; thóc là ngũ cốc chưa qua chế biến, phân loại vào Chương 10. Nếu thóc được xay thành bột, thì phân loại vào 1102.90.
Tự kiểm tra:
✓ Đã xác nhận hàng hóa chưa bóc vỏ, vỏ trấu nguyên vẹn chưa?
✓ Đã phân biệt dùng để trồng trọt và phi trồng trọt, và chuẩn bị phê duyệt kiểm dịch chưa?
✓ Đã kiểm tra mức độ chế biến, chưa xay xát, chưa đánh bóng chưa?
✓ Đã đối chiếu quy cách đóng gói với khai báo chưa?
✓ Đã xác nhận xuất xứ để áp dụng đúng thuế suất chưa?
❓ Câu hỏi thường gặp
Thóc và gạo lứt khác nhau như thế nào về mã HS? Thóc được phân loại vào 1006.10, gạo lứt vào 1006.20. Sự khác biệt chính là đã bóc vỏ chưa: thóc chưa bóc vỏ, vỏ trấu nguyên vẹn; gạo lứt đã bóc vỏ nhưng chưa xay xát, vẫn giữ lớp cám. Khi khai báo cần mô tả chính xác trạng thái bóc vỏ, nếu không có thể dẫn đến phân loại sai và kiểm tra hải quan. Khai báo thóc dùng để trồng trọt có yêu cầu đặc biệt gì? Thóc dùng để trồng trọt ngoài các yếu tố khai báo cơ bản, còn cần cung cấp 'Giấy phép kiểm dịch động thực vật nhập khẩu' hoặc 'Phiếu phê duyệt giống cây trồng', và ghi rõ 'dùng để trồng trọt'. Hải quan sẽ tập trung kiểm tra giấy tờ phê duyệt kiểm dịch, thiếu giấy tờ có thể bị trả hồ sơ hoặc xử phạt. Thóc sau khi sấy khô và sàng lọc có thay đổi mã HS không? Sấy khô và sàng lọc là chế biến sơ cấp, không thay đổi đặc điểm cơ bản chưa bóc vỏ của thóc, do đó vẫn phân loại vào 1006.10. Nhưng nếu đã qua bóc vỏ hoặc xay xát, thì cần phân loại vào 1006.20 hoặc 1006.30 tùy theo mức độ chế biến. Làm thế nào phân biệt thóc và bột gạo? Bột gạo là bột được xay từ thóc, thuộc sản phẩm công nghiệp xay xát, phân loại vào Chương 11 (1102.90). Thóc là hạt nguyên chưa qua chế biến, phân loại vào 1006.10. Nếu hàng hóa ở dạng bột, phải phân loại vào Chương 11. Làm thế nào tra cứu hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thóc? Thóc thuộc mặt hàng quản lý hạn ngạch thuế quan, thuế suất trong hạn ngạch thấp hơn, ngoài hạn ngạch cao hơn. Thuế suất cụ thể và số lượng hạn ngạch cần tra cứu 'Biểu thuế xuất nhập khẩu' năm hiện hành và thông báo của Bộ Thương mại. Doanh nghiệp có thể hỏi hải quan hoặc cơ quan thương mại về quy trình xin hạn ngạch. Trong các yếu tố khai báo thóc, 'mức độ chế biến' điền như thế nào? Mức độ chế biến nên mô tả chi tiết như 'đã sấy khô, sàng lọc, hun trùng, chưa bóc vỏ, chưa xay xát'. Nếu đã qua đánh bóng hoặc xay xát, thì không còn là thóc, phải phân loại vào gạo trắng. Khi điền cần phù hợp với trạng thái thực tế của hàng hóa, tránh mô tả mơ hồ. Nhập khẩu thóc từ các quốc gia khác nhau, thuế suất có giống nhau không? Thuế suất phụ thuộc vào xuất xứ và hiệp định thương mại. Ví dụ, các nước ASEAN có thể áp dụng thuế suất Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN, trong khi các nước khác có thể áp dụng thuế suất tối huệ quốc hoặc thuế suất phổ thông. Khi khai báo cần cung cấp giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng thuế suất ưu đãi. Quy cách đóng gói của thóc có ảnh hưởng đến phân loại không? Quy cách đóng gói không ảnh hưởng đến phân loại mã HS, nhưng ảnh hưởng đến thống kê và kiểm tra hải quan. Dù đóng rời hay đóng bao, miễn là chưa bóc vỏ, đều phân loại vào 1006.10. Khi khai báo cần điền trung thực phương thức đóng gói và trọng lượng tịnh.
Q: Thóc và gạo lứt khác nhau như thế nào về mã HS?
A: Thóc được phân loại vào 1006.10, gạo lứt vào 1006.20. Sự khác biệt chính là đã bóc vỏ chưa: thóc chưa bóc vỏ, vỏ trấu nguyên vẹn; gạo lứt đã bóc vỏ nhưng chưa xay xát, vẫn giữ lớp cám. Khi khai báo cần mô tả chính xác trạng thái bóc vỏ, nếu không có thể dẫn đến phân loại sai và kiểm tra hải quan.
Q: Khai báo thóc dùng để trồng trọt có yêu cầu đặc biệt gì?
A: Thóc dùng để trồng trọt ngoài các yếu tố khai báo cơ bản, còn cần cung cấp 'Giấy phép kiểm dịch động thực vật nhập khẩu' hoặc 'Phiếu phê duyệt giống cây trồng', và ghi rõ 'dùng để trồng trọt'. Hải quan sẽ tập trung kiểm tra giấy tờ phê duyệt kiểm dịch, thiếu giấy tờ có thể bị trả hồ sơ hoặc xử phạt.
Q: Thóc sau khi sấy khô và sàng lọc có thay đổi mã HS không?
A: Sấy khô và sàng lọc là chế biến sơ cấp, không thay đổi đặc điểm cơ bản chưa bóc vỏ của thóc, do đó vẫn phân loại vào 1006.10. Nhưng nếu đã qua bóc vỏ hoặc xay xát, thì cần phân loại vào 1006.20 hoặc 1006.30 tùy theo mức độ chế biến.
Q: Làm thế nào phân biệt thóc và bột gạo?
A: Bột gạo là bột được xay từ thóc, thuộc sản phẩm công nghiệp xay xát, phân loại vào Chương 11 (1102.90). Thóc là hạt nguyên chưa qua chế biến, phân loại vào 1006.10. Nếu hàng hóa ở dạng bột, phải phân loại vào Chương 11.
Q: Làm thế nào tra cứu hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thóc?
A: Thóc thuộc mặt hàng quản lý hạn ngạch thuế quan, thuế suất trong hạn ngạch thấp hơn, ngoài hạn ngạch cao hơn. Thuế suất cụ thể và số lượng hạn ngạch cần tra cứu 'Biểu thuế xuất nhập khẩu' năm hiện hành và thông báo của Bộ Thương mại. Doanh nghiệp có thể hỏi hải quan hoặc cơ quan thương mại về quy trình xin hạn ngạch.
Q: Trong các yếu tố khai báo thóc, 'mức độ chế biến' điền như thế nào?
A: Mức độ chế biến nên mô tả chi tiết như 'đã sấy khô, sàng lọc, hun trùng, chưa bóc vỏ, chưa xay xát'. Nếu đã qua đánh bóng hoặc xay xát, thì không còn là thóc, phải phân loại vào gạo trắng. Khi điền cần phù hợp với trạng thái thực tế của hàng hóa, tránh mô tả mơ hồ.
Q: Nhập khẩu thóc từ các quốc gia khác nhau, thuế suất có giống nhau không?
A: Thuế suất phụ thuộc vào xuất xứ và hiệp định thương mại. Ví dụ, các nước ASEAN có thể áp dụng thuế suất Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN, trong khi các nước khác có thể áp dụng thuế suất tối huệ quốc hoặc thuế suất phổ thông. Khi khai báo cần cung cấp giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng thuế suất ưu đãi.
Q: Quy cách đóng gói của thóc có ảnh hưởng đến phân loại không?
A: Quy cách đóng gói không ảnh hưởng đến phân loại mã HS, nhưng ảnh hưởng đến thống kê và kiểm tra hải quan. Dù đóng rời hay đóng bao, miễn là chưa bóc vỏ, đều phân loại vào 1006.10. Khi khai báo cần điền trung thực phương thức đóng gói và trọng lượng tịnh.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Phân loại mã HS, yếu tố khai báo, thuế suất và điều kiện quản lý trên trang này chỉ mang tính tham khảo, không cấu thành tư vấn pháp lý về phân loại hải quan. Thuế suất và quy định có thể thay đổi; thông báo mới nhất của Tổng cục Hải quan và xác định tại chỗ sẽ được ưu tiên. Vui lòng tham khảo ý kiến đại lý hải quan chuyên nghiệp trước khi xuất nhập khẩu.